Category: Uncategorized

Để từ thiện không chỉ… câu Like

Nếu từ thiện chỉ là phong trào, để lấy Like, để xoa dịu lương tâm, để cầu may, để đánh bóng tên tuổi, để thể hiện vị thế xã hội, thì người cho đã tự khước từ khả năng nhận. Lúc đó, từ thiện đánh mất chức năng là chất gắn kết của một cộng đồng. Ngược lại, nó chỉ củng cố các bất công trong xã hội.

Trước hết, chúng ta nên bắt đầu bằng cách đặt tâm điểm của sự chú ý vào người nhận, chứ không phải vào người làm từ thiện, những ngôi sao hay người mẫu. Chúng ta nên bắt đầu bằng sự tôn trọng những người nhận sự giúp đỡ của chúng ta, nhìn họ là những con người độc lập, có lịch sử, có số phận, có câu chuyện riêng. Sự giúp đỡ ở mức cao nhất, Maimonides, triết gia Do Thái ở thế kỷ 12 đã viết, là sự giúp đỡ mà qua đó người nhận vẫn giữ được lòng tự trọng và nhân phẩm của mình.

Chúng ta cũng cần suy nghĩ xem hành động của mình, dụng ý thì tốt, nhưng có thể gây tác hại gì không. Cái làng ở Mộc Châu kia, nếu như tuần nào, thậm chí ngày nào, cũng có một vài nhóm du khách vào đưa cho họ chăn và mì ăn liền, thì chẳng mấy chốc toàn bộ cấu trúc xã hội của làng sẽ sụp đổ, và tôi sẽ không lạ khi dân làng bắt đầu bán đồ được cho để mua rượu uống.

từ thiện, mạng xã hội, cộng đồng, văn hóa
Nếu từ thiện chỉ là phong trào, để lấy like, để xoa dịu lương tâm, để cầu may, để đánh bóng tên tuổi, để thể hiện vị thế xã hội, thì người cho đã tự khước từ khả năng nhận.

Trong một bài báo năm 2012, Al Jazeera dẫn ra những tác hại của du lịch thăm trẻ mồ côi, một lĩnh vực đang được người phương Tây rất ưa chuộng, qua trường hợp ở Campuchia. Trẻ mồ côi bị ảnh hưởng tâm lý vì mỗi tuần chúng lại phải cắt đứt quan hệ tình cảm với một nhóm tình nguyện viên mà chúng vừa quen, và xây dựng quan hệ với một nhóm mới.

Trong nhiều trường hợp, những người quản lý trại lợi dụng lũ trẻ để trục lợi mà khách viếng thăm, do cưỡi ngựa xem hoa, không thể biết được. Câu chuyện này hẳn không xa lạ với người Việt. Ở Bali, làn sóng khách du lịch tới cho tiền các trại mồ côi đã khuyến khích các gia đình đẩy con mình vào trại, biến một gia đình lành lặn thành một gia đình què quặt.

Chúng ta cũng nên bắt đầu bằng những câu hỏi đúng. Thay vì hỏi “Cháu đã có kẹo chưa?” du khách Sapa ở bên trên nên hỏi: “Tại sao cháu lại đứng ở đây mà không tới trường?”. Nên quan tâm một cách tổng thể tới hoàn cảnh của người cần giúp đỡ, bối cảnh địa phương của họ và các yếu tố tác động đằng sau. Vì sao họ nghèo? Vì họ không có đường ra chợ, vì họ bị trung gian thu mua nông sản bắt chẹt, vì lũ cuốn đất màu do rừng bị tàn phá, vì họ thiếu vốn lẫn thiếu kỹ năng quản lý vốn?

Tiếp theo, chúng ta có thể nghĩ xem nên hướng nguồn lực của mình vào đâu để đem lại lợi ích lớn nhất cho những người hoặc cộng đồng cần trợ giúp. Đôi khi, cái mà một bản nghèo cần cho cuộc sống và nhân phẩm của mình không phải là lại thêm hàng chục thùng mỳ ăn liền hay những cái chăn nữa, mà là một cái cầu treo, hay cơ hội để bán hàng của mình ở thị trấn. Tất nhiên, để tìm ra được những điều này cần tâm trí và sự quan tâm thực sự và lâu bền, không chỉ một cảm xúc mùi mẫn kéo dài 20 phút khi người ta chụp selfie trước những ngôi nhà dột nát.

Hoạt động từ thiện có thể chữa phần ngọn: quyên tiền cho một ca mổ tim, đem lại ánh sáng cho người khiếm thị, bảo trợ cho một sinh viên nghèo học đại học. Những hoạt động này thực sự thay đổi cuộc đời, thậm chí cứu mạng sống.

Quan trọng hơn, các hoạt động nhân đạo và từ thiện rất cần tập trung thay đổi phần gốc, đó là các tương quan xã hội tạo ra đói nghèo, bóc lột và bất công. Hội chứng “Người cứu tinh da trắng” có vấn đề bởi nó không liên quan gì tới công lý, nó chỉ là một trải nghiệm tình cảm để người ta tái khẳng định sự may mắn và đặc lợi của mình.

Trong trường hợp này, từ thiện trở thành một cử chỉ phô ra sự thương hại và sức mạnh của người giàu, bởi họ không quan tâm tới hoàn cảnh xã hội, và qua đó từ chối thay đổi nó để giải quyết bất công. “Sự hào phóng của người làm từ thiện sẽ đóng băng nếu như quyền lực của anh ta bị thách thức,” nhà thần học người Mỹ Reinhold Niebuhr viết,“hoặc nếu sự hào phóng này không được tiếp nhận với sự nhẫn nhục mà anh ta đòi hỏi.”  

Trong một xã hội hiện đại với các tương quan phức tạp như hiện nay, trách nhiệm của một công dân có ý thức không chỉ là “lá lành đùm lá rách”, mà còn phải là cố gắng hiểu những tương quan đó, tự vấn về trách nhiệm cá nhân mình trong các lựa chọn làm ăn, kinh doanh, mua sắm, tiêu thụ, và đặt câu hỏi mình có thể đóng góp được gì để thay đổi vấn đề, hoặc ít nhất không làm nó trầm trọng hơn.

Trong hoạt động nhân đạo và từ thiện, tiền chỉ là một trong các nguồn tài nguyên, thậm chí không phải là nguồn quan trọng nhất. Quan trọng hơn là kiến thức, tài năng, và sức ảnh hưởng của các cá nhân muốn giúp đỡ đồng bào của mình.

Báo chí, thay vì tập trung vào chuyện người nổi tiếng mặc gì khi phát quà, hãy để họ lên tiếng và lôi kéo sự chú ý của công chúng tới những vấn đề thuộc về phần gốc: nông dân bị mất kế sinh nhai, công nhân ở những khu công nghiệp vật lộn với cuộc sống, môi trường bị huỷ hoại, phân hoá giầu nghèo, bạo lực trong gia đình.  

Thay vì chỉ đóng tiền cứu trợ khi có bão lũ, hay nhân tiện mang quần áo cũ lên vùng cao nhân dịp đi chụp ảnh hoa ban, hãy tìm hiểu công việc của những tổ chức phi chính phủ và hỗ trợ họ. Những tổ chức này đang bền bỉ hoạt động để bảo vệ quyền của trẻ em, để phụ nữ không bị buôn bán, người thiểu số giữ được văn hoá bản địa, người khuyết tật không bị kỳ thị, chính quyền địa phương trở nên minh bạch hơn, và người dân có tiếng nói hơn.

Làm việc với họ tuy không cho ra những bức ảnh bắt mắt như khi ta chụp với trẻ em miền núi, nhưng nó sẽ đi xa hơn rất nhiều những phản xạ rút ví vào những lúc chúng ta “rủ lòng thương.”

Cuối cùng, chúng ta nên từ bỏ tâm thế của người ban phát. Từ thiện là một quá trình hai chiều, cho và nhận. Mỗi người, dù nghèo tới đâu, cũng có cái để cho người khác, và mỗi người, dù đầy đủ tới đâu, cũng cần mở rộng mình để nhận.

Nếu từ thiện chỉ là phong trào, để lấy like, để xoa dịu lương tâm, để cầu may, để đánh bóng tên tuổi, để thể hiện vị thế xã hội, thì người cho đã tự khước từ khả năng nhận. Lúc đó, từ thiện đánh mất chức năng là chất gắn kết của một cộng đồng. Ngược lại, nó chỉ củng cố các bất công trong xã hội.

Tác giả: Giang Dang

Posted on 17/03/2015 Tạo bởi Admin With 0 comments

Lợi dụng lòng thương hại

Vài năm qua, báo chí thế giới bắt đầu mổ xẻ một khái niệm gọi là “poverty porn” – một loại hình truyền thông luôn đi với vỏ bọc nhân văn nhưng bên trong chứa đầy mặt trái.

Camera hướng từ trên cao xuống một cô bé da màu. Cô bé đứng đơn độc trên một cánh đồng ở một nơi vô danh, nhìn về xa với ánh mắt tuyệt vọng, không bao giờ hướng mắt vào máy quay.

Càng khổ càng tốt

Một giọng nói cất lên: “Đây là Daniela. Cô bé 9 tuổi. Cơ thể bé đang bị giày vò bởi những cơn đau do ký sinh trùng, thứ đã giết chết chị của bé, tạo ra. Nếu không có sự giúp đỡ, Daniela sẽ là người kế tiếp”. Một giọt nước mắt rơi xuống má của Daniela…

Đó là một đoạn quảng cáo điển hình mà tác giả Lina Srivastava nói rằng “mọi người dân Bắc Mỹ từ khi sinh ra đến khi lớn lên đều được xem mỗi tối”. Srivastava là một chuyên gia về truyền thông xã hội ở New York, từng tham gia các chiến dịch truyền thông cho UNICEF, UNESCO và Ngân hàng Thế giới. Và bà gọi đoạn quảng cáo ấy là “kích dục thương hại”. Những môtip quảng cáo như thế đang trở nên quá phổ biến trong thế giới hiện đại.

Không dễ dàng định nghĩa thế nào là “poverty porn”. Các chuyên gia xã hội học tạm đưa ra một giải thích “bất kỳ dạng truyền thông viết, hình ảnh, phim… khai thác tình cảnh nghèo đói nhằm làm tăng sự cảm thông để bán báo hoặc gây quỹ từ thiện hoặc để lấy danh tiếng”.

Nói đến các sản phẩm kích dục (porn), người ta thường nghĩ ngay đến tình dục. Nhưng trong mỗi con người còn những “dục” (ham muốn) mạnh mẽ khác. Lòng thương hại chính là một trong số đó.

Con người luôn có xu hướng xúc cảm rất mạnh trước những mảnh đời nghèo khổ, những đứa trẻ đói khát, những số phận gian truân. Và nếu như tình dục có một dòng sản phẩm văn hóa riêng để đáp ứng thì lòng thương hại bây giờ cũng có.

Nhà báo Mỹ Edward Behr (một cây bút lớn từng làm việc cho Time, Newsweek…) từng kể một câu chuyện nổi tiếng về một phóng viên tác nghiệp ở vùng chiến sự tại Congo trong thập niên 1960. Khung cảnh lúc ấy chỉ có những người đàn ông cầm dao rựa, phụ nữ để ngực trần và những đứa trẻ đang khóc rấm rứt. Một khung cảnh quá thông thường của châu Phi.

Tay phóng viên biết rằng mình cần phải làm gì đó để tạo ra câu chuyện kịch tính. Và anh ta cất tiếng hỏi: “Có ai ở đây từng bị hiếp và nói được tiếng Anh không?” (Anyone here been raped and speaks English?). Câu hỏi này về sau trở thành tựa một cuốn sách của Edward Behr về chủ đề “poverty porn”.

Một phụ nữ châu Phi bị hãm hiếp là câu chuyện “tốt” để kích thích lòng trắc ẩn của độc giả. Nếu có người bị chết một cách thảm thương thì thậm chí còn “tốt” hơn.

Điều mà một nhà báo khác, Jo Chandler – người chuyên theo dõi khu vực Trung Phi và Papua New Guinea, từng tiếp xúc với rất nhiều cái chết vì bệnh dịch đau đớn của người dân những nước nghèo, thú nhận tôn chỉ của báo chí bây giờ là: “Càng tồi tệ càng tốt”.

Họ cần tìm ra những nhân vật thống khổ nhất, những khía cạnh tàn tệ nhất, đôi khi không cần đại diện chính xác cho vấn đề đang được phản ánh, để miêu tả.

Và rốt cuộc “poverty porn” trở thành một phong trào. Nó được sử dụng trong tất cả tình huống người ta cần thu hút sự chú ý (để bán báo, để đạt được mục đích quyên góp từ thiện, để lấy danh tiếng…).

Bởi vì ngoài việc đánh vào bản năng thương cảm, nó khiến người tiếp nhận thoải mái khi họ cảm thấy mình có quyền năng để giúp đỡ, tin rằng mình đã thật sự giúp đỡ người khác khi bỏ tiền làm từ thiện.

Và không có gì dễ dàng, đơn giản hơn là bỏ ra một chút tiền thay vì dấn thân vào những hoạt động cần đến sự bền bỉ, nỗ lực gấp bội để giải quyết câu chuyện gốc rễ.

(Khảo sát các bài viết trên blog về ba chủ đề từ ngày 6 đến 29-6-2014)
(Khảo sát các bài viết trên blog về ba chủ đề từ ngày 6 đến 29-6-2014)

Có khốn cùng, có chú ý

Trong thời đại của truyền thông xã hội thì đó không còn là câu chuyện riêng của các nhà báo và các tổ chức phi chính phủ.

Mỗi người đều có thể tự sở hữu kênh xuất bản riêng trên mạng xã hội, thuận tiện nhất là qua Facebook. Và rất nhiều người trong số họ hiểu rằng các nội dung gợi lòng trắc ẩn sẽ rất hiệu quả trong việc gây sự chú ý. Đôi khi tâm niệm này chỉ là vô thức. Và đó là lúc những sự sai lầm phát sinh.

Hồi giữa tháng 6, cư dân mạng lan truyền chuyện về một người đàn ông Đan Mạch đã dành rất nhiều tâm sức xây 24 cây cầu tặng các vùng xa xôi hẻo lánh ở Việt Nam, nhưng rồi đến cuối đời lại bị người Việt lừa hết tiền, sống trong cảnh nghèo túng cạnh bãi tha ma. Câu chuyện gây phẫn nộ cao trong dư luận.

Đến khi báo chí vào cuộc xác minh thì hóa ra người đàn ông nọ dù có bị lừa, có mất nhiều tiền nhưng “sự thật không hẳn như thông tin đã lan truyền” (báo PL TP.HCM ngày 12-6), và ông bà vẫn sống trong một căn nhà không đến nỗi nào. Câu chuyện lập tức nguội xuống rất nhanh chóng.

Sau khi phát hiện ông bà không đến nỗi quẫn cùng như mô tả, những khía cạnh khác như trách nhiệm của chính quyền, khó khăn của ông bà về mặt hành chính dường như không được dư luận đoái hoài đến nữa.

Khảo sát trên mạng về số lượng các bài viết trên blog về “ông già Đan Mạch” cho thấy chủ đề này bùng lên rất nhanh trong khoảng vài ngày giữa tháng 6 và gần như biến mất sau khi báo chí xác minh (xem biểu đồ, với các chủ đề thời sự khác như “vải thiều” và “cửa khẩu” để so sánh về tính ổn định).

Người ta có quyền tự hỏi rằng nếu như ngay từ đầu, nếu câu chuyện về ông Kurt không được xoáy sâu vào khía cạnh “khốn cùng”, sự túng quẫn của ông không được cường điệu một cách chưa chính xác mà đưa với một thái độ trung dung hơn, thông tin chuẩn hơn thì liệu có tốt hơn cho dư luận và cho việc giúp đỡ vợ chồng ông?

Cho đến tận cuối câu chuyện vẫn chưa có một ai thật sự đứng ra giải thích tường tận về những khó khăn mà ông phải đối mặt.

Người ta hướng trí tò mò tới sự túng quẫn về mặt vật chất của một người nước ngoài (điều hoàn toàn trái ngược với quan niệm “hễ Tây thì không giàu cũng phải khá”), trong khi khó khăn thật sự của ông có thể nằm ở một nơi khác, như việc làm sổ đỏ cho căn nhà mà vợ chồng ông đang sống chẳng hạn.

Ở đây, cái nghèo được mô tả không đầy đủ lại trở thành thứ thuốc “kích thích” cho những status thể hiện lòng thương cảm, ái ngại, cho những sự hỗ trợ kiểu mang mì gói, nước uống đến tặng. Và khiến vấn đề tổng thể không được giải quyết.

Sự quyên góp mù quáng

Đây là một trong những khía cạnh quan trọng của các sản phẩm “poverty porn”. Nó khiến đại chúng tiếp cận sai chiều hướng của cái nghèo.

Tác giả Emily Roenigk thuộc Tổ chức World Relief viết: “Cái nghèo không chỉ bao gồm bối cảnh cá nhân, mà còn có cả hệ thống xã hội và pháp lý… Tuy nhiên, các sản phẩm poverty porn lại mô tả cái nghèo bằng những khổ đau nhìn thấy được, đến từ việc thiếu thốn vật chất. Nó khiến những hoàn cảnh phức tạp của con người trở nên dễ hiểu, dễ tiếp thu và dễ xử lý”.

Và xử lý một cách bề mặt.

Cái hại của việc “dễ xử lý” khi đứng trước một câu chuyện như thế, một nỗi thống khổ của riêng một cá nhân, chính là khi đó người ta luôn có cảm giác cách tốt nhất để giải quyết vấn đề chính là quyên góp. Đó tất nhiên không phải là cách giải quyết vấn đề.

Lật lại những trang báo có thể dễ dàng tìm thấy những cuộc quyên góp để lại hậu quả tiêu cực.

Lừa đảo từ thiện là một vấn đề không mới, nhưng trong những câu chuyện như thế người ta không nhìn thấy rằng để tiếp tay cho những kẻ lừa đảo, một bộ phận rất lớn người dùng mạng đã chia sẻ những câu chuyện thương tâm này mà không cần suy nghĩ, kiểm tra. Đó chính là hành vi phát tán “poverty porn”.

Người ta không hề đặt ra câu hỏi: Người này là ai? Điều gì đã gây ra hoàn cảnh hiện tại của anh/chị ta? Gia đình, các mối quan hệ của anh/chị ta ra sao? Hướng giải quyết có lợi nhất cho hoàn cảnh này là gì?

Họ không cố vẽ lên một bức tranh toàn cảnh. Cái họ có là một câu chuyện đẫm nước mắt, một khía cạnh thấm đẫm thương cảm của vấn đề. Và họ phát tán nó. Những người khác quyên góp. Rồi lại tiếp tục phát tán. Nó rất ít khi được lan truyền vì một động cơ lý trí.

Tổ chức United for Sight thậm chí khẳng định “kích dục thương hại” là thứ hủy hoại nỗ lực của những người làm từ thiện đứng đắn: “Nó tạo ra tư tưởng những người nghèo là những người tuyệt vọng, không có khả năng giúp đỡ bản thân, rồi tạo ra một thứ văn hóa của chủ nghĩa gia trưởng”.

Chủ nghĩa gia trưởng (paternalism) là những hành động bởi một người, tổ chức hay quốc gia khiến một người hay tổ chức khác bị hạn chế trong tự do quyết định quyền lợi của họ.

Trong trường hợp của các sản phẩm “poverty porn”, chủ nghĩa gia trưởng được thể hiện bằng việc cả người tuyên truyền lẫn người giúp đỡ đều tự quyết định phương thức cải thiện cuộc sống của người cần giúp là các khoản tiền quyên góp trực tiếp.

Với các khoản quyên góp này, người nghèo có thể phụ thuộc, thậm chí ỷ lại vào chúng. Trong khi đó luôn tồn tại những cách hiệu quả hơn để họ tháo gỡ khó khăn, nhưng thứ này đã bị phủ nhận ngay từ đầu khi truyền thông mô tả họ trong những bộ dạng tuyệt vọng, hoàn toàn không có năng lực tự cải thiện cuộc sống.

Bạn sẽ không khó tìm thấy một câu chuyện về một người nghèo đánh mất năng lực tự quyết định số phận của họ sau những khoản tiền quyên góp, không khó để tìm thấy những cuộc tranh cãi gay gắt của những “mạnh thường quân” về việc mình có bị lợi dụng không, người nhận có sử dụng đúng mục đích không, thậm chí có nên đòi lại tiền không.

Tất cả là do ngay từ đầu họ đã tiếp cận với một thứ duy nhất là nỗi khổ chứ không phải bản thân người cần giúp.

Rất tiếc là sau những câu chuyện như thế, niềm tin về lòng tốt trong xã hội chẳng những không được bồi đắp mà còn mai một.

Posted on 20/08/2014 Tạo bởi Admin With 0 comments